Đừng nghĩ khi lu lèn mắt thấy chân im là đã hoàn thành. Nếu không đạt độ chặt thì sau một vài mùa mưa hoặc khi công trình đi vào vận hành dưới tải trọng lớn, toàn bộ nền sàn nhà xưởng bị nứt toác, mặt đường sụt lún, võng sâu. Lúc này, chi phí gia cố và khắc phục có thể lớn gấp hàng chục lần chi phí làm nền ban đầu. Vì vậy việc kiểm soát độ chặt K không nghiêm túc ngay từ bước đắp nền. Bài viết này sẽ hướng dẫn thầu thí nghiệm độ chặt K ngay tại công trình mình.

Vì sao công trình bắt buộc phải kiểm tra độ chặt K
Độ chặt K là gì? và cách hiểu đúng trong thi công
Hiểu một cách thực tế và đơn giản nhất, độ chặt K (hay hệ số đầm nén) là tỷ số giữa dung trọng khô (khối lượng thể tích khô) của cát, đất, đá sau khi lu lèn ngoài hiện trường (γₖᵗᵗ) và dung trọng khô lớn nhất của chính mẫu vật liệu đó khi được đầm nén tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm (γₖᵐᵃˣ).
Mỗi loại đất (đất đồi, cát san lấp, cấp phối đá dăm) có một trị số γₖᵐᵃˣ hoàn toàn khác nhau được xác định qua thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn. Độ chặt K chính là thước đo xem đội thi công ngoài hiện trường đã lu lèn đạt được bao nhiêu phần trăm so với độ chặt lý tưởng trong phòng thí nghiệm.
Độ chặt K ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng nền móng
Khi đào đất lên hoặc đổ một đống cát san lấp xuống, cấu trúc hạt vật liệu rất tơi xốp, chứa nhiều lỗ rỗng và nước. Nếu không lu lèn đạt hệ số K quy định, dưới tác động của tải trọng công trình hoặc xe cộ, các hạt vật liệu sẽ tự sắp xếp lại, lấp đầy các lỗ rỗng này dẫn đến hiện tượng lún sụt.
Độ chặt K đạt chuẩn sẽ ép chặt các hạt vật liệu lại với nhau, tăng ma sát nội, nâng cao sức chịu tải của nền đất, giảm thiểu tối đa độ lún cố kết và ngăn chặn sự xâm nhập của nước ngầm làm phá hoại kết cấu móng từ bên dưới.
Các mức K90, K95, K98 khác nhau ra sao
Trong các bản vẽ thiết kế kỹ thuật, kỹ sư luôn quy định rõ phân khu nào cần đạt K90, K95 hay K98. Sự khác biệt này dựa trên mức độ chịu lực của từng hạng mục:
Độ chặt K90: Thường áp dụng cho các khu vực đắp đất không chịu lực trực tiếp, như đắp bờ bao, các lớp đất nằm sâu dưới nền đường (cách mặt nền hơn 1m), hoặc khu vực trồng cây xanh, vỉa hè dành cho người đi bộ.
Độ chặt K95: Đây là độ chặt thông dụng nhất trong xây dựng dân dụng và công nghiệp. K95 là yêu cầu bắt buộc cho nền nhà xưởng, nền sàn nhà dân dụng, lớp đất đắp nền đường thông thường, nền đường kĩ thuật ở độ sâu vừa phải.
Độ chặt K98: K98 bắt buộc phải áp dụng cho lớp sát nền hạ đường cao tốc, đường cất cánh sân bay, hoặc lớp cấp phối đá dăm nền móng nhà xưởng có xe container, xe nâng tải trọng hàng chục tông chạy qua lại liên tục.
VLXD Nam Thành
Tiêu chuẩn thí nghiệm độ chặt K áp dụng hiện nay
Các tiêu chuẩn thí nghiệm độ chặt K thường được áp dụng
Tại Việt Nam, phòng Las-XD hiện nay căn cứ chủ yếu vào hệ thống tiêu chuẩn quốc gia sau:
TCVN 4201:2012: Phương pháp xác định khối lượng thể tích trong phòng thí nghiệm (Thí nghiệm đầm nén Proctor tiêu chuẩn và Proctor cải tiến để tìm γₖᵐᵃˣ).
TCVN 8729:2012: Phương pháp xác định khối lượng thể tích khô của đất tại hiện trường bằng phương pháp rót cát.
TCVN 8728:2012: Phương pháp xác định khối lượng thể tích của đất bằng phương pháp dao vòng (áp dụng cho đất dính, không lẫn sỏi sạn).
Khi nào cần thực hiện thí nghiệm độ chặt K
Quy trình chuẩn là phải thí nghiệm theo từng lớp đắp. Khi nhà thầu san gạt và lu lèn xong một lớp vật liệu (độ dày thường từ 15cm đến 25cm tùy loại máy lu), giám sát hiện trường kiểm tra, lấy mẫu thí nghiệm đạt K của lớp đó thì mới cho phép đổ vật liệu đắp tiếp lớp tiếp theo.
Công trình nào bắt buộc phải kiểm tra độ chặt
Hầu hết các công trình có hạng mục san lấp nền hạ bằng đất, cát, hoặc tôn tạo mặt bằng đều cần kiểm tra độ chặt K. Đặc biệt, các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, công trình công nghiệp (nhà xưởng sản xuất, kho bãi), công trình hạ tầng giao thông (đường xá, cầu cống, đê điều) là phải có biên bản nghiệm thu độ chặt K trong hồ sơ hoàn công thì mới được giải ngân.

VLXD Nam Thành
Tiêu chuẩn lấy mẫu thí nghiệm độ chặt K theo từng loại công trình
Hệ thống tiêu chuẩn lấy mẫu thí nghiệm độ chặt k quy định rất rõ về tần suất và mật độ để đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ mặt bằng.
| Loại công trình | Diện tích / Thể tích quy định | Số lượng điểm mẫu tối thiểu | Vị trí phân bổ mẫu |
| Nền nhà dân dụng / Nhà xưởng | Mỗi 100 m2- 200 m2trên một lớp đắp | Ít nhất 1 điểm (Tối thiểu 3 điểm cho 1 sàn) | Phân bố đều tại trung tâm và các góc cạnh gần cột |
| Nền đường giao thông | Mỗi 100m – 200m chiều dài đơn tuyến đường | 3 điểm trên một mặt cắt ngang | Trục tim đường, vệt bánh xe trái và vệt bánh xe phải |
| Khu vực đắp bờ bao / Đê đập | Mỗi 200 m3 – 500 m3 vật liệu đắp vào | Tùy quy định thiết kế, tối thiểu 3 mẫu | Các cao độ khác nhau và vùng lõi chịu lực chịu nước |
Tiêu chuẩn lấy mẫu thí nghiệm độ chặt K đối với nền nhà
Đối với nền nhà xưởng hoặc nhà dân dụng, khu vực góc tường, cạnh cột là những nơi xe lu lớn không thể tiếp cận được, thường phải dầm bằng máy đầm cóc cầm tay. Giám sát viên nên yêu cầu lấy mẫu tại chính các vùng chết này để kiểm tra xem đội thợ có đầm ẩu hay không, bên cạnh việc lấy các mẫu ở khu vực trung tâm rộng rãi.
Tiêu chuẩn lấy mẫu thí nghiệm độ chặt K đối với nền đường
Đối với công trình giao thông, tần suất lấy mẫu thường dày hơn rất nhiều. Theo tiêu chuẩn thi công đường ô tô, ngoài việc tuân thủ khoảng cách theo chiều dài tuyến, tại các vị trí chuyển tiếp như đoạn tiếp giáp giữa nền đường và mố cầu, hoặc vị trí đặt cống dọc, cống ngang, việc tăng cường lấy mẫu kiểm tra độ chặt K là bắt buộc.
VLXD Nam Thành
Các phương pháp thí nghiệm độ chặt K phổ biến ngoài thực tế
Phương pháp rót cát
Đây là phương pháp phổ biến nhất.
Nguyên lý là đào một cái hố nhỏ tại vị trí cần kiểm tra trên lớp đất đã lu lèn, thu gom toàn bộ lượng đất đào ra để cân khối lượng và đo độ ẩm. Sau đó, họ dùng một thiết bị phễu rót loại cát tiêu chuẩn đầy vào hố đào. Dựa vào lượng cát tiêu chuẩn hao hụt rơi vào hố, ta tính được chính xác thể tích của cái hố đó.
Phương pháp dao vòng
Phương pháp này nhanh, gọn, rẻ tiền nhưng dải áp dụng rất hẹp. Vì chỉ dùng được cho đất dính (đất sét, đất thịt, đất pha sét) không lẫn sỏi sạn và có độ ẩm vừa phải.
Dùng một vòng dao bằng thép có kích thước tiêu chuẩn, đóng trực tiếp xuống nền đất để ấn chặt một khối đất vào trong lòng dao. Sau đó gọt phẳng hai đầu và đem cân để tính toán khối lượng thể tích tự nhiên. Nếu áp dụng dao vòng cho cát san lấp hoặc đất đồi nhiều đá sỏi, cấu trúc đất sẽ bị vỡ vụn ngay khi đóng dao, kết quả hoàn toàn sai lệch.
Phương pháp thiết bị phóng xạ
Đây là phương pháp hiện đại, sử dụng máy đo độ chặt bằng tia gamma và nơ-trôn. Máy chỉ cần đặt lên mặt nền, bấm nút là vài phút sau có ngay kết quả độ ẩm và độ chặt khô của đất mà không cần đào bới.
Mặc dù cực kỳ nhanh và tiện lợi cho các công trình cần tiến độ thần tốc, nhưng phương pháp này ít được sử dụng đại trà do thiết bị đắt tiền, yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn phóng xạ và kết quả đôi khi bị nhiễu do từ trường hoặc thành phần hóa học đặc biệt của đất nền.
Nên lựa chọn phương pháp nào trong từng trường hợp
Nếu thầu thi công san lấp nền bằng cát hoặc cấp phối đá dăm: Hãy chọn Phương pháp rót cát. Đây là lựa chọn an toàn nhất, được mọi tư vấn giám sát chấp thuận.
Nếu thầu đắp nền bằng đất sét, đất đồi mịn không sỏi sạn: Sử dụng Phương pháp dao vòng để tiết kiệm chi phí và thời gian có kết quả.

VLXD Nam Thành
Quy trình thí nghiệm độ chặt K tại hiện trường
Chuẩn bị trước khi thí nghiệm
Dọn dẹp bề mặt vị trí thí nghiệm phẳng phiu, loại bỏ lớp bụi đất rời rạc phía trên do bánh xe lu quẹt qua. Chuẩn bị bộ phễu rót cát, bình chứa cát tiêu chuẩn (đã được cân sấy và xác định dung trọng trước trong phòng thí nghiệm). Cân điện tử chính xác đến góc gam, khay đựng mẫu, đục, búa, túi nilon kín để bảo quản mẫu độ ẩm.
Các bước thực hiện ngoài công trường
Đặt tấm nền: Đặt tấm định vị của phễu rót cát lên mặt đất đã làm phẳng.
Đào hố: Tiến hành đục và đào một cái hố hình trụ qua lỗ trung tâm của tấm nền. Độ sâu hố đào phải tương đương với chiều dày của lớp đất được lu lèn (thường từ 15cm – 20cm). Toàn bộ đất đào lên phải được gom sạch sẽ vào khay, không được làm rơi rớt dù chỉ một hạt nhỏ.
Cân khối lượng đất đào: Cân khối lượng tổng của lượng đất vừa đào được (Gw).
Rót cát: Úp bình chứa cát tiêu chuẩn có gắn phễu lên tấm nền, mở van cho cát chảy tự do xuống hố. Khi cát dừng chảy, khóa van lại, đem bình cát còn dư đi cân để tính lượng cát đã nằm lại trong hố (Gc).
Cách tính hệ số độ chặt K
Từ lượng cát tiêu chuẩn rơi vào hố (Gc) và khối lượng thể tích của cát tiêu chuẩn, tính được thể tích hố đào:
Khối lượng thể tích tự nhiên của đất ngoài hiện trường:
Lấy một phần mẫu đất đào được đi sấy khô (hoặc đốt bằng cồn ngay tại hiện trường nếu cần gấp) để tìm độ ẩm của đất (W, tính theo %). Từ đó suy ra khối lượng thể tích khô thực tế của nền đất:
VLXD Nam Thành
Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm độ chặt K
Độ ẩm của đất – Yếu tố cốt tử
Đất quá khô hay quá ướt đều không thể lu chặt được. Khi đất đạt đúng độ ẩm này, nước đóng vai trò như một chất bôi trơn giúp các hạt đất dễ dàng trượt lên nhau, xếp chặt vào nhau dưới lực nén của bánh lu.
Đất quá khô: Các hạt đất ma sát lớn, đẩy nhau, lu cỡ nào cũng không chặt.
Đất quá ướt: Nước chiếm hết chỗ của các lỗ rỗng, khi xe lu đi qua sẽ xảy ra hiện tượng đất nhún
Loại vật liệu san lấp
Vật liệu có thành phần cấp phối hạt tốt (đầy đủ các kích cỡ hạt từ lớn đến nhỏ để hạt nhỏ chèn vào kẽ hở của hạt lớn) thì cực kỳ dễ đạt độ chặt K cao. Ngược lại, nếu dùng loại cát quá mịn, cát hạt đều (đồng kích cỡ) hoặc đất đồi có lẫn quá nhiều tảng đá mồ côi lớn, việc lu lèn đạt K95, K98 là một cực hình kỹ thuật.
Thiết bị lu lèn và số lượt lu
Không thể dùng một con lu dắt tay 1 tấn để lu đạt K95 cho lớp đất dày 30cm. Phải chọn đúng loại lu:
Lu chân cừu: Cực tốt cho đất dính (đất sét), giúp đầm chặt từ dưới sâu đầm lên.
Lu rung tải trọng lớn (14 tấn – 25 tấn): Vua của các loại cát san lấp và cấp phối đá dăm.
Số lượt lu: Thông thường, một lớp đất đắp cần từ 6 đến 10 lượt lu trên một vệt bánh tùy theo loại đất thì mới đạt độ chặt bão hòa. Lu ít quá thì chưa chặt, nhưng lu nhiều quá vượt ngưỡng chịu tải của đất có thể gây ra hiện tượng phá vỡ cấu trúc liên kết, làm đất rời rạc trở lại.
Độ dày từng lớp đắp
Thi công ẩu là đổ ào một lớp đất dày 50cm – 60cm rồi cho xe lu chạy bên trên bề mặt. Lực nén của xe lu chỉ có tác dụng trong khoảng 15cm – 20cm phía trên, phần đáy của lớp đắp hoàn toàn xốp rỗng. Quy chuẩn thi công luôn yêu cầu độ dày mỗi lớp đất đắp sau khi lu lèn không được vượt quá 20cm (hoặc tối đa 25cm đối với thiết bị lu siêu nặng).

VLXD Nam Thành
Những lỗi thường gặp khi kiểm tra độ chặt K
Lấy mẫu sai vị trí
Lựa lấy mẫu đúng các góc khuất, vị trí mép đường (nơi xe lu lớn không vào được và chưa được đầm cóc kỹ) để đóng dao vòng hoặc rót cát. Hoặc ngược lại, lấy mẫu ngay tại vệt bánh xe lu vừa đi qua trên một mặt bằng chưa được san gạt phẳng đồng đều. Vị trí lấy mẫu phải ngẫu nhiên và mang tính đại diện theo đúng sơ đồ lưới ô vuông của tiêu chuẩn lấy mẫu thí nghiệm độ chặt K.
Kiểm tra khi đất quá khô hoặc quá ướt
Nếu đào hố rót cát xong, để mẫu đất trong khay phơi nắng cả tiếng đồng hồ rồi mới đem cân khối lượng tự nhiên, lượng nước trong đất bị bay hơi đáng kể sẽ làm sai lệch hoàn toàn kết quả tính toán dung trọng khô. Mẫu đất sau khi đào phải được bỏ ngay vào hộp nhôm hoặc túi nilon kín để giữ nguyên trạng độ ẩm hiện trường.
Không kiểm tra theo đúng tiêu chuẩn
Lỗi phổ biến là sử dụng sai loại cát tiêu chuẩn để rót (cát bị ẩm, bị lẫn bụi bẩn làm thay đổi khối lượng thể tích chuẩn Gc), hoặc khi đào hố rót cát làm sạt lở thành hố, để đất đá từ miệng hố rơi xuống đáy hố. Làm thể tích hố đo được nhỏ hơn thực tế, dẫn đến kết quả K bị kéo sụt xuống một cách oan uổng.
VLXD Nam Thành
Câu hỏi thường gặp về độ chặt K
Độ chặt K bao nhiêu thì đạt?
Không có một con số chung cho mọi hạng mục. Độ chặt K đạt hay không phụ thuộc hoàn toàn vào yêu cầu trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Thông thường: nền móng nhà dân dụng, nhà xưởng cần tối thiểu K95, lớp móng đường giao thông cần K98, khu vực sân vườn, vỉa hè cảnh quan chỉ cần K90.
Khi không đạt K có phải thi công lại không?
Có. Về mặt nguyên tắc kỹ thuật và pháp lý, nếu kết quả thí nghiệm tại một phân khu báo trượt K, tư vấn giám sát có quyền từ chối nghiệm thu. Nhà thầu bắt buộc phải xử lý bằng cách: cày xới lớp đất đó lên, điều chỉnh lại độ ẩm, sau đó tiến hành lu lèn lại và gọi đơn vị thí nghiệm đến lấy mẫu kiểm tra lại từ đầu.
Thời điểm nào nên kiểm tra độ chặt?
Thời điểm lý tưởng nhất là ngay sau khi kết thúc lượt lu lèn cuối cùng từ 1 – 2 tiếng và đất vẫn giữ được độ ẩm tự nhiên trong quá trình thi công.


