Khi xe bê tông vừa tới công trường, một trong những việc mà đội kỹ thuật cần kiểm tra trước khi cho bơm là độ sụt. Bê tông quá khô có thể khó bơm, khó len qua cốt thép và dễ tạo rỗ tổ ong hay hỗn hợp quá nhão nhưng tăng bằng cách cho thêm nước tùy tiện có thể làm thay đổi tỷ lệ nước và xi măng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kết cấu. Vì vậy, hiểu đúng độ sụt bê tông, biết cách chọn theo từng cấu kiện và kiểm tra ngay lúc giao nhận giúp nhà thầu tránh được rất nhiều rủi ro mà khi bê tông đã đông cứng mới phát hiện thì rất khó sửa.

Khái niệm độ sụt bê tông
Độ sụt bê tông là gì?
Hiểu đơn giản theo cách thợ thầy thường dùng, độ sụt là con số phản ánh khả năng biến dạng và tính công tác của hỗn hợp bê tông dẻo sau khi tháo côn thử. Con số đo được cho biết hỗn hợp đang khô, dẻo hay linh động đến mức nào, qua đó hỗ trợ đánh giá khả năng vận chuyển, bơm, đổ và làm đầy khuôn.
Theo TCVN 3106:2022, phép thử áp dụng cho hỗn hợp bê tông thông thường, bê tông hạt nhỏ và bê tông nhẹ ở trạng thái dẻo. Tiêu chuẩn không áp dụng theo cách này cho bê tông tự lèn và một số loại bê tông đặc biệt. Tiêu chuẩn 2022 hiện thay thế bản TCVN 3106:1993 trước đây.
Phân biệt độ sụt của bê tông và độ sụt lún bê tông
Ngoài công trường, hai cách gọi độ sụt của bê tông và độ sụt lún bê tông thường được dùng để nói về cùng phép thử côn trên hỗn hợp chưa đông cứng.
- Độ sụt bê tông tươi nhấn mạnh thời điểm kiểm tra là khi vật liệu vẫn còn ở trạng thái hỗn hợp và có thể thi công.
- Độ sụt lún bê tông là cách gọi khá phổ biến trên thị trường nhưng dễ bị nhầm với hiện tượng lún của kết cấu sau xây dựng
Về bản chất, độ sụt của bê tông được xác định bằng chênh lệch chiều cao sau khi tháo côn theo đúng quy trình. Không nên hiểu đây là mức lún của kết cấu sau khi bê tông đông cứng. Khi trao đổi với trạm trộn, nên ghi rõ yêu cầu, đơn vị và sai số cho phép để tránh cách hiểu khác nhau giữa đơn vị đặt hàng và đơn vị cung cấp.
Độ sụt và mác bê tông khác nhau như thế nào?
- Mác hoặc cấp cường độ nói về khả năng chịu lực của bê tông sau khi đạt tuổi quy định
- Độ sụt nói về tính công tác của hỗn hợp khi còn tươi
Ví dụ cùng một cấp bê tông dùng cho sàn, nhà cung cấp có thể thiết kế hỗn hợp với tính công tác khác nhau bằng việc điều chỉnh cấp phối và phụ gia. Nếu chỉ thấy bê tông độ sụt cao rồi cho rằng cường độ chắc chắn thấp là chưa chính xác. Nguy hiểm nằm ở chỗ hỗn hợp bị tăng nước ngoài thiết kế, chứ không phải cứ linh động hơn là mặc định yếu hơn.
Độ sụt bê tông bao nhiêu là đạt?
| Cách ghi trên yêu cầu | Khoảng giá trị thường được hiểu | Nhận xét thực tế thi công |
| Độ sụt bê tông 10 2 (10±2 cm) | 8 – 12 cm | Tính công tác vừa phải, có thể phù hợp nhiều cấu kiện thông thường nếu điều kiện bơm và mật độ thép cho phép |
| Độ sụt bê tông 12 2 (12±2 cm) | 10 – 14 cm | Khá phổ biến với bê tông thương phẩm bơm cho nhà dân và công trình thông thường |
| Độ sụt bê tông 14 2 (14±2 cm) | 12 – 16 cm | Linh động hơn, cần kiểm soát cấp phối và phụ gia thay vì tự ý tăng nước |
| Độ sụt bê tông 2 4 | Cần xác nhận lại cách ghi | Nếu ý định là khoảng 2 – 4 cm thì phải ghi rõ 2 – 4 cm |
| Độ sụt bê tông 6 8 | Cần xác nhận lại cách ghi | Nếu ý định là khoảng 6 – 8 cm thì nên ghi rõ 6 – 8 cm |
Cách chọn độ sụt bê tông phù hợp với từng hạng mục
Cách chọn độ sụt bê tông cho móng và bê tông khối lớn
Nguyên tắc của cách chọn độ sụt bê tông cho móng là xem đồng thời chiều dày cấu kiện, mật độ thép, cách vận chuyển hỗn hợp, phương án bơm và khả năng đầm. Móng rộng, khoảng cách thép tương đối thoáng và có điều kiện đầm tốt thường không cần hỗn hợp quá linh động chỉ để đội thi công cảm thấy “dễ kéo”.
Với bê tông khối lớn, cái khó còn liên quan nhiệt thủy hóa, trình tự đổ, phân lớp và kiểm soát nứt nhiệt. Do đó không thể chỉ tập trung vào độ sụt của bê tông rồi bỏ qua thiết kế cấp phối tổng thể. Hỗn hợp phải đủ công tác để thi công nhưng đồng thời cần ổn định, hạn chế phân tầng và đáp ứng yêu cầu nhiệt của cấu kiện.
Cách chọn độ sụt cho dầm, sàn và cầu thang
Dầm, sàn và cầu thang có đặc điểm hình học khác nhau nhưng đều yêu cầu hỗn hợp điền đầy tốt quanh cốt thép và phải đầm được trong thời gian cho phép. Sàn rộng nhưng mỏng, thi công bằng bơm thường cần hỗn hợp đủ linh động để phân phối nhanh mà không phải kéo bê tông quá xa bằng cào.
Với cầu thang, nếu hỗn hợp quá nhão, bê tông có xu hướng chảy xuống bậc dưới khiến việc tạo hình khó hơn. Trái lại quá khô sẽ khó lấp kín các vị trí giao giữa bản thang, chiếu nghỉ và cốt thép dày.
Cách chọn độ sụt cho cột, vách và cấu kiện có mật độ cốt thép dày
Cột và vách có cốt thép dày là thầu cần đặc biệt quan tâm khả năng điền đầy. Khoảng cách giữa các thanh thép nhỏ, chiều cao đổ lớn, nhiều vị trí khó đưa đầm dùi vào thì hỗn hợp phải có tính công tác phù hợp để giảm nguy cơ rỗ tổ ong, hốc đá hoặc không lấp kín góc khuôn.
Là trường hợp bê tông độ sụt cao có thể được cân nhắc trong thiết kế hỗn hợp, nhưng phải phân biệt rất rõ giữa tăng tính công tác bằng phụ gia với tăng bằng nước tùy tiện. Nếu cần độ linh động lớn hơn, tốt nhất yêu cầu nhà cung cấp thiết kế ngay từ đầu. Khi độ sụt bê tông càng cao, nguy cơ phân tầng và tách nước cũng cần được theo dõi tùy thành phần hỗn hợp. Một hỗn hợp tốt phải vừa chảy được qua cốt thép vừa giữ được tính đồng nhất; nếu đá tụ một chỗ, hồ xi măng chạy một chỗ thì việc dễ đổ không còn nhiều ý nghĩa.
Đổ bê tông bằng bơm cần và bơm tĩnh nên chọn độ sụt thế nào?
- Bơm cần thường linh hoạt về vị trí xả nhưng chiều dài đường ống và chiều cao bơm vẫn ảnh hưởng đến áp lực và tổn thất tính công tác.
- Bơm tĩnh có thể phải đi đường ống dài, nhiều co và lên cao nên yêu cầu hỗn hợp phải có khả năng bơm tốt, cấp phối hạt hợp lý và lượng hồ đủ để bôi trơn đường ống.
Ở công trường cao tầng, cần yêu cầu đơn vị bê tông biết trước cao độ bơm, chiều dài tuyến ống và số co. Nếu bê tông độ sụt cao là cần thiết cho phương án thi công thì phải được thiết kế và kiểm soát từ trạm, không giải quyết bằng cách mang vòi nước ra cạnh xe.

Cách kiểm tra độ sụt bê tông tại công trường
Dụng cụ cần chuẩn bị để kiểm tra độ sụt bê tông
Bộ thử cơ bản gồm côn thử độ sụt, tấm nền phẳng và cứng, thanh đầm, dụng cụ xúc, bay hoặc dụng cụ gạt và thước đo. Với côn N1 theo TCVN 3106:2022, kích thước danh nghĩa là đường kính đáy 200 mm, miệng 100 mm và chiều cao 300 mm.
Dụng cụ phải sạch, không biến dạng và bề mặt tiếp xúc được làm ẩm phù hợp trước khi thử. Côn méo hoặc tấm nền nghiêng có thể làm kết quả sai ngay từ đầu.
Đặt côn trên nền đất lún, tấm ván cong hoặc mặt nghiêng rồi đo thì con số thu được rất khó dùng làm căn cứ nghiệm thu.
Quy trình đo độ sụt bê tông tươi từng bước
Đối với hỗn hợp có kết quả dự kiến dưới 160 mm khi dùng côn N1, bê tông được cho vào côn thành ba lớp; mỗi lớp chọc 25 lần. Sau khi làm đầy và gạt phẳng, côn được nhấc thẳng đứng trong khoảng 5–10 giây. Toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu cho bê tông vào côn đến khi nhấc côn phải tiến hành liên tục.
Ngoài công trường, triển khai như sau:
- Trộn đều phần mẫu đã lấy, làm ẩm dụng cụ, đặt côn cố định trên tấm nền
- Cho từng lớp hỗn hợp vào côn và chọc đều từ ngoài vào trong
- Lớp trên cùng luôn bảo đảm đủ vật liệu để sau khi đầm có thể gạt phẳng miệng.
Sau đó vệ sinh phần bê tông rơi quanh chân côn. Theo TCVN 3105:2022, mẫu hỗn hợp dùng để kiểm tra tại hiện trường cần được lấy và bảo quản để hạn chế thay đổi thành phần, đồng thời thí nghiệm phải bắt đầu trong khoảng thời gian quy định sau khi lấy mẫu.
Cách đọc và ghi nhận kết quả sau khi rút côn
Sau khi nhấc côn, đặt côn cạnh khối bê tông và đo chênh lệch chiều cao giữa miệng côn với điểm cao nhất của khối hỗn hợp. TCVN 3106:2022 quy định phép đo với độ chính xác đến 5 mm. Kết quả cuối cùng được xác định theo hai lần đo đáp ứng điều kiện chênh lệch cho phép của tiêu chuẩn.
Khi ghi biên bản, đừng chỉ ghi một con số. Yêu cầu có giờ xe đến, giờ thử, biển số hoặc mã xe, mác/cấp bê tông, yêu cầu đặt hàng, kết quả đo, tình trạng hỗn hợp và người chứng kiến. Nếu có tranh chấp sau này, những dữ liệu đó giá trị hơn rất nhiều so với ảnh chụp một chiếc thước không rõ thuộc xe nào.
Phân biệt sụt đúng, gãy côn và đổ sập khi thử
Trạng thái đạt là khối bê tông hạ xuống tương đối đồng đều và vẫn duy trì hình dạng đủ để đo. Nếu khối hỗn hợp bị sạt lệch rõ về một phía, vỡ hoặc đổ mất hình dạng thì không nên lấy chiều cao đó làm kết quả bình thường.
TCVN 3106:2022 yêu cầu khi khối sau tháo côn bị vỡ hoặc sạt thì phải lấy mẫu khác thử lại. Nếu hai lần liên tiếp vẫn xảy ra hiện tượng này, cần xem xét hỗn hợp không đủ độ dẻo, độ dính kết thích hợp cho phép thử hoặc kiểm tra lại quy trình thao tác.
Những lỗi thường gặp khiến kết quả đo không chính xác
- Lỗi đầu tiên là lấy mẫu không đại diện.
- Lỗi thứ hai là nền đặt côn không phẳng.
- Lỗi thứ ba là chọc không đủ số lần hoặc chọc quá mạnh khiến các lớp bị xáo trộn không đúng cách.
- Lỗi thứ tư là nhấc côn quá nhanh, quá chậm hoặc kéo nghiêng.
Ngoài ra, để mẫu phơi nắng quá lâu cũng làm hỗn hợp mất nước và kết quả khác với thời điểm giao nhận. Nếu một xe phải chờ lâu ngoài cổng, tình trạng vật liệu lúc bắt đầu bơm có thể khác đáng kể lúc vừa đến.

Những yếu tố làm thay đổi độ sụt của bê tông
Tỷ lệ nước và xi măng ảnh hưởng như thế nào?
Nước làm hỗn hợp linh động hơn, vì vậy tăng nước thường làm độ sụt tăng. Luôn lưu ý tỷ lệ nước/xi măng cũng thay đổi theo, kéo theo ảnh hưởng đến độ rỗng, cường độ, độ bền lâu và co ngót của bê tông sau khi cứng.
Cốt liệu cát, đá ảnh hưởng đến ra sao?
Cát bê tông và đá 1×2 quyết định rất nhiều đến tính công tác. Cát xây tô quá mịn làm tăng diện tích bề mặt cần hồ xi măng bao phủ, cát san lấp có nhiều bùn sét làm tăng nhu cầu nước và có thể ảnh hưởng chất lượng liên kết. Đá 0x4 có hình dạng dẹt, thoi hoặc bề mặt góc cạnh nhiều thường tạo ma sát lớn hơn cốt liệu có hình dạng phù hợp.
Độ ẩm cát cũng đặc biệt quan trọng. Trạm trộn phải kiểm soát độ ẩm để hiệu chỉnh lượng nước trộn. Cùng một công thức cân vật liệu nhưng cát vừa dính mưa và cát khô hoàn toàn có thể làm trạng thái hỗn hợp thay đổi rõ rệt nếu không hiệu chỉnh.
Nhiệt độ, thời tiết và thời gian vận chuyển ảnh hưởng như thế nào?
Trời nóng, gió mạnh và thời gian vận chuyển dài khiến hỗn hợp mất tính công tác nhanh hơn. Xe rời trạm đúng yêu cầu nhưng nếu kẹt giao thông lâu, đến công trường giữa trưa nắng thì kết quả đo có thể thấp hơn đáng kể.
Đây là lý do khi đặt bê tông luôn tính cả thời gian xe chạy, năng suất bơm và khoảng cách giữa các xe. Gọi xe dồn dập mà bơm không kịp khiến xe sau đứng chờ; gọi thưa quá lại làm mạch đổ bị gián đoạn.
Phụ gia hóa dẻo và siêu dẻo ảnh hưởng ra sao?
Phụ gia hóa dẻo và siêu dẻo cho phép cải thiện tính công tác mà không phải tăng nước theo cách thông thường. Là giải pháp rất quan trọng đối với bê tông bơm, bê tông cường độ cao, cấu kiện dày cốt thép và các tình huống cần duy trì độ linh động trong một khoảng thời gian nhất định.
Phụ gia không phải cứ cho nhiều là tốt. Liều lượng quá mức hoặc không tương thích với xi măng có thể ảnh hưởng thời gian đông kết, khả năng giữ tính công tác hoặc ổn định của hỗn hợp. Vì vậy việc điều chỉnh phải do đơn vị thiết kế cấp phối và nhà cung cấp kiểm soát.

VLXD Nam Thành cung cấp vật liệu trộn bê tông đúng độ sụt
Muốn kiểm soát hỗn hợp ổn định ngay từ đầu, chất lượng cát xây dựng, đá xây dựng và nguồn vật liệu phải đồng đều. VLXD Nam Thành cung cấp các nhóm cát và đá xây dựng phục vụ trộn bê tông cho công trình dân dụng và công nghiệp. Với nguồn cát đá nhập trực tiếp từ nguồn mỏ khai thác, không qua bên thứ 3. VLXD Nam Thành đảm bảo chất lượng, độ sạch của cát đá kèm theo mức giá dễ tiếp cận nhất đến với các thầu. Liên hệ ngay qua hotline/zalo: 0901 800 789 để nhận tư vấn giá cát, đá xây dựng mới nhất hôm nay.



